Chủ Nhật, 2 tháng 6, 2013

3 lễ tục tiêu biểu phần 3

LỄ CƯỚI

Lễ cưới là đỉnh điểm của cả quy trình tiến tới hôn nhân, là hình thức liên hoan, báo hỉ mừng cô dâu, chú rể, mừng hai gia đình, có ý nghĩa rất thiêng liêng. Do đó, cả xưa và nay, mọi người đều rất coi trọng. Đây cũng chính là nghi lễ được dư luận xã hội quan tâm nhiều hơn cả. Lễ cưới chỉ được tổ chức sau khi đã được chính quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Thủ tục đăng ký kết hôn rất đơn giản.

Hai người chỉ việc mua 2 mẫu đăng ký tại Uỷ ban Nhân dân phường (xã) (nam 1 tờ và nữ 1 tờ), điền vào mẫu và mỗi người đều phải lấy chứng nhận của phòng tổ chức nơi mình công tác. Nếu chưa đi làm, bạn có thể xin xác nhận của ông tổ trưởng dân phố (xóm). Sau đó, cả hai cùng đến Uỷ ban Nhân dân phường đem theo hộ khẩu và chứng minh để xin đăng ký. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn sẽ được trao cho hai người sau đó khoảng 10 ngày.

Trước đây, người ta gọi lễ này là lễ rước dâu. Ngày nay, trong ngôn từ của đời sống thường ngày, người ta gọi lễ này là lễ cưới (dịch theo tiếng Hán là hôn lễ). Điều đó chứng tỏ vị trí rất quan trọng của lễ này trong hệ thống hôn lễ. Ý nghĩa của lễ này là: Công bố sự thành hôn của đôi trai gái, vì thế lễ này còn gọi là lễ thành hôn.

Trong tâm thức người Việt (từ xưa cho đến ngày nay) thì lễ cưới (chứ không phải tờ hôn thú) có giá trị pháp lý cao nhất. Tuy nhiên, chính ở lễ này nhiều vấn đề xã hội "gay cấn" diễn ra, khen chê của dư luận xã hội đều tập trung vào lễ này. Vấn đề càng trở nên phức tạp hơn khi sự khen chê ấy không đồng nhất, thậm chí còn đối lập nhau. Ví dụ: ngày nay một đám cưới theo nghi thức cổ truyền có thể vừa được khen, vừa bị chê. Người khen thì cho rằng, thế mới là đám cưới Việt Nam, thế mới không sợ sự du nhập của văn hoá bên ngoài, nhưng người chê thì lại nói rằng: thế là rườm rà, lãng phí và luỵ cổ ...

Lễ xin dâu: Trước giờ đón dâu, mẹ chú rể sẽ cùng một người thân trong gia đình đến nhà gái đem cơi trầu, chai rượu để báo trước giờ đoàn đón dâu sẽ đến, nhà gái yên tâm chuẩn bị đón tiếp. Trước đây, do có sự gả bán, cưỡng hôn nên trong hôn lễ dễ có sự cố (chú rể hoặc cô dâu vì không đồng ý tổ chức hôn lễ, tự bỏ trốn...), nên lễ này nhằm xác định chính xác lần cuối cùng thời gian đón dâu hoặc xem lại có sự cố, bất trắc gì không. Ngày nay, hôn nhân dựa trên cơ sở của tình yêu đối lứa, nên những bất trắc rất hiếm, thời gian đã thống nhất trước thường được đảm bảo.

Rước dâu: Dù đoàn rước dâu của nhà trai có đi bằng phương tiện gì đi chăng nữa thì trước khi vào nhà giá cũng phải "chấn chỉnh đội hình". Thông thường, đi đầu là đại diện nhà trai (là người khéo ăn, khéo nói, có vị thế xã hội). Tiếp đến là bố chú rể, chú rể và bạn bè (ở Việt Nam, mẹ chồng không bao giờ đi đón con dâu, thậm chí khi cô dâu về đến nhà chồng, mẹ chồng còn phải trốn một lúc rồi mới ra tiếp khách). Thời nay, đoàn rước dâu cũng không đông người lắm, chỉ khoảng 20 người vì đông quá nhà gái không đủ chỗ tiếp vả lại còn phải nhường chỗ ở xe ô tô cho nhà gái đưa dâu. Làm như thế, trước hết để đoàn nhà trai tránh được sự lộn xộn, lúng túng trong ứng xử (nếu vào nhà gái mà vẫn không theo thứ tự sắp đặt trước); nhưng điều quan trọng hơn là tạo điều kiện để nhà gái không bị động, không bị bất ngờ trong nghênh tiếp.

Trước đây, nhà trai báo hiệu cho nhà gái bằng một tràng pháo và khi nào nhà gái đáp lại bằng một tràng pháo khác thì nhà trai mới được vào và có một tục khác là tục chằng dây cũng có tác dụng tương tự. Tục này từng bị phê phán là hủ tục nên đã bị bãi bỏ từ lâu. Trong tình hình mới hiện nay, "hình thức" của tục này vẫn tồn tại nhưng "nội dung" lành mạnh, nhẹ nhàng, vui vẻ hơn: Nhà gái bố trí vài em nhỏ bụ bẫm, xinh xắn, mặc áo đỏ (hay thắt lưng, nơ đỏ) chăng dây chờ sẵn ở trước nhà gái khoảng độ 20-30m. Khi nhà trai đến, một trong các em nhỏ chạy về báo cho nhà gái biết. Nhà trai chuẩn bị một ít kẹo để phân phát cho lũ trẻ chăng dây này (khi đã nhận được kẹo bọn chúng sẽ rút dây để đoàn nhà trai đi vào nhà gái). Như vậy, tục chăng dây sẽ trở thành một hình thái văn hóa khác hẳn về chất so với tục lan nhai ngày xưa. Nó sẽ tô điểm thêm bản sắc văn hoá của người Việt.

Sau khi đã vào nhà gái, nhà trai được mời an tọa. Hai bên giới thiệu nhau, sau một tuần trà, đại diện nhà trai đứng dậy có vài lời với nhà gái xin chính thức được rước cô dâu về.

Nhà gái đáp từ: Sau khi được "các cụ" cho phép, chú rể mới được vào phòng trong để trao hoa cho cô dâu và cùng cô dâu đến trước bàn thời thắp nén hương rồi ra chào bố mẹ, họ hàng hai bên. Cha mẹ cô dâu dặn dò đôi vợ chồng trẻ về cách sống, về tình yêu thương, về đạo lý vợ chồng. Vị đại diện nhà trai đáp lời thay cho chú rể và xin rước dâu lên xe. Nhà gái cùng theo xe hoa về nhà trai dự tiệc cưới. Trước đây, khi xe hoa (đám rước dâu) về tới cửa, nhà trai đốt pháo mừng. Nay, không có pháo nữa, người ta phải thế vào đó bằng cách khởi nhạc sống hoặc mở băng nhạc để tạo không khí vui vẻ, long trọng để nghênh tiếp cô dâu và nhà gái.

Đầu tiên, cô dâu và chú rể được cha mẹ dẫn đến bàn thờ để thắp hương yết tổ (lễ gia tiên), rồi chào họ hàng bên chồng. Sau đó là lễ tơ hồng, (ngày nay, lễ tơ hồng không còn là một nghi thức có tính bắt buộc nữa) tùy từng gia đình, lễ này có thể làm, có thể không). Tiếp theo, cô dâu được dẫn vào phòng cưới, ngồi lên chiếc giường cưới do một người được nhà trai chọn sẵn (mắn con) trải chiếu. Cuối cùng, nhà trai mời nhà gái và tất cả những người tham dự ăn tiệc cưới. Trước kia, tiệc cưới do gia đình người ta thường thuê chỗ và người nấu tiệc.

Không biết tự bao giờ, nhiều gia đình ở thành phố thường làm "ngược" tiến trình này : Họ không rước dâu về nhà mà rước thẳng đến phòng cưới (mà thực chất là phòng tiệc nhà hàng). Sau khi xong việc ở phòng cưới, cô dâu - chú rể mới về nhà chồng, gia đình nề nếp thì có lễ gia tiên, lễ tơ hồng, trải chiếu, có một số gia đình coi như đám cưới đã xong!

Về trang phục:

Chú rể: complet, cài hoa trước ngực.

Cô dâu: áo cô dâu theo mốt châu Âu, màu trắng hoặc màu kem


Về đồ mừng cưới: Xưa, các cụ ta có tục mừng đỡ, nay, người đến dự đám cưới tặng đôi vợ chồng trẻ cái gì đó cũng là điều hiển nhiên. Vấn đề nổi cộm của việc mừng cưới hiện nay là: Cấp dưới nịnh, hối lộ cấp trên thông qua phong bì mừng cưới. Tuy nhiên, số đám cưới của các con quan này không phải là nhiều, vì thế đây không phải là vấn đề của văn hóa, (những hành vi kiểu này chỉ là nhất thời, nó sẽ biến đi theo sự thay đổi thời cuộc). Vấn đề đáng quan tâm hơn về phương diện văn hóa (xây dựng nếp sống) ở đây là : Tặng quà cưới thế nào để người tặng và người nhận đều giữ được lễ? Quà cưới và tặng quà cưới cần phải bảo đảm được những nguyên tắc sau:

Trang trọng: muốn vậy, quà phải được bọc giấy điều, dù là tiền cũng phải được bọc trong phong bì đẹp. Trong đám cưới, cần có ban lễ tân (thường là người thân) đứng ra nhận quà mừng, hướng dẫn khách và đỡ gói quà cho khách (nếu cồng kềnh) vào nơi qui định. Cần tránh việc cô dâu - chú rể vừa đi chào mọi người vừa thu tiền mừng (trông không được đẹp mắt lắm). Nếu không biết được "nhu cầu sở thích" của cô dâu - chú rể, thì không nên mua đồ mà nên mừng bằng tiền. Số tiền cũng theo "mặt bằng" chung. Ban tổ chức đám cưới cũng nên lưu ý một vấn đề khác, tế nhị hơn là: phải tạo điều kiện để những người không có tiền mừng (ví dụ tầng lớp sinh viên chẳng hạn) vẫn đến mừng đám cưới được. Nhiều gia đình đã "xử lý" tình huống này rất hay theo cách: ngoài tiệc mặn, có thêm tiệc trà. Tiệc trà, không có tiền mừng nhưng người tham dự không bị áy náy như ở tiệc mặn.

Về biểu trưng: Khoảng gần trăm năm qua, dân ta cũng đã cố gắng suy nghĩ - sáng tạo ra nhiều biểu trưng khác nhau cho lễ cưới (như đôi chim bồ câu, đèn lồng, trái tim, chữ lồng, mặt hai người hôn nhau,...) nhưng không thể thay thế được biểu trưng của chữ song hỷ: sở dĩ như vậy là do chúng vừa thiếu tính thẩm mỹ vừa thiếu tính thông tin (hiểu theo nghĩa ký hiệu học). Cho đến nay, và có lẽ mãi mãi, biểu trưng song hỷ vẫn là biểu trưng của đám cưới: người không hiểu chữ Hán nhìn vào chữ này cũng hiểu và cảm nhận được ngay: đám cưới. Cũng phải khẳng định thêm rằng: chữ song hỷ đã được đúc kết từ hàng ngàn năm, nó đã đạt đến độ hoàn thiện (cả về ý nghĩa xã hội lẫn tính hoàn mỹ).

Ở đây cũng nên phê phán quan điểm dân tộc hẹp hòi, cho rằng chữ này là của Tàu, ta phải có biểu trưng của ta, riêng biệt, độc nhất. (Cái gì được du nhập từ bên ngoài, nhưng đã bắt rễ và sống ở ta thì cái đó đã trở thành truyền thống của ta rồi).

Về tiệc cưới: Ngày nay, khi nền kinh tế đã tăng trưởng, các gia đình đã có những tích lũy nhất định, thì việc cưới to hay nhỏ (nhiều mâm hay ít mâm) không còn là vấn đề phải bàn cãi nữa. Đặc biệt là ở nông thôn, tính cộng đồng xóm giềng, làng xã, họ hàng đang còn mạnh thì tiệc cưới là một dịp tốt để củng cố tính cộng đồng ấy. Vấn đề cần bàn ở đây chỉ là tiệc cưới ở thành phố. Ở thành phố, người ta thường kết hợp tiệc cưới với lễ thành hôn, cho nên nhiều khi cái "tục" của sự ăn lấn át mất cái "thiêng" của lễ cưới: Người ta đến ăn, ngồi cùng bàn ăn là những người không quen biết, ăn sao cho đúng giờ, khi cô dâu - chú rể đến thì rút phong bì ra trao cho họ, khiến người ta cảm thấy như là sự trả tiền cho bữa ăn.

Chụp hình ngoài trời: Ở một số thành phố lớn, cô dâu và chú rể thường đến một số địa điểm đẹp ngoài trời để chụp ảnh làm kỷ niệm. Cảnh đẹp sẽ tôn thêm vẻ đẹp của dâu và chú rể cùng những ước mong về một cuộc sống tươi đẹp và ngập tràn hạnh phúc. Với cách chụp hình ngoài trời, cô dâu và chú rể sẽ lưu lại được những bức ảnh có giá trị cùng với phong cảnh tự nhiên. Phong trào này hiện nay rất phổ biến, được nhiều người ở thành phố áp dụng. Đây cũng là một cơ hội để bà con họ hàng của cô dâu chú rể được tận mắt trông thấy những cảnh đẹp và bộ mặt thay đổi của thành phố, đặc biệt là đối với những người không có nhiều điều kiện "ra tỉnh".

Thứ Bảy, 1 tháng 6, 2013

3 lễ tục tiêu biểu phần 2

LỄ ĂN HỎI

Có thể nói rằng, lễ ăn hỏi là sự thông báo chính thức về sự hứa giá thú của hai gia đình, hai họ. Nó đánh dấu một chuyển đoạn quan trọng trong quan hệ hôn nhân : Cô gái được hỏi đã chính thức trở thành vợ chưa cưới của chàng trai đi hỏi.
 

Ngày nay, về hình thức lễ này vẫn giữ tên là lễ ăn hỏi, nhưng trên thực tế, thì lễ này bao hàm cả lễ dẫn cưới. (Sự quy giản này phần nào cho chúng ta thấy tính thích nghi của văn hóa cổ truyền trong xã hội đương đại). Chính vì thế, mô hình lễ ăn hỏi ngày nay phải phản ánh được sự thay đổi ấy, nói cách khác, trong các nghi thức ở lễ ăn hỏi ngày nay phải có cả những nghi thức của lễ dẫn cưới.

Mô hình lễ ăn hỏi trong xã hội Việt Nam đương đại như sau:

Về thành phần tham dự

Nhà trai: Đại diện gia đình, họ hàng, chú rể, một số cô gái chưa chồng đội mâm quả hay còn gọi là bê tráp (bây giờ có thể là nam thanh niên) vì các cô sợ "mất duyên", số người bê tráp là số lẻ, 5 hoặc 7 hoặc 9...

Nhà gái: Bố mẹ, ông bà (nếu còn), anh chị em ruột của cô dâu, cô dâu và một số bạn bè thân cận. Ở nông thôn có thể có một số cô dì chú bác của cô dâu).

Về lễ vật:
  • 1. Cau tươi: 1 buồng
  • 2. Bánh cốm: 200 chiếc
  • 3. Hạt sen: 2 kg
  • 4. Chè: 2 kg
  • 5. Rượu: 2 chai
  • 6. Thuốc lá: 2 tút
  • 7. Bánh su xê (phu thê): 200 hoặc 20
  • 8. Phong bì tiền: 2 chiếc
Đó là những lễ vật tối thiểu theo tục lệ cổ truyền; tất nhiên, chất l¬ượng và số lượng thêm thì tùy thuộc vào năng lực kinh tế của từng gia đình. Tuy nhiên, số lượng nhất thiết phải là 2. Về lễ vật cho lễ này, cần phải tránh xu hướng phục cổ cực đoan (phục hồi tục thách cưới hay thách cưới trá hình) cũng như một cực đoan khác là: nhà trai không có lễ vật dẫn cưới.
 

Ý nghĩa của lễ vật dẫn cưới là: thể hiện lòng biết ơn của nhà trai đối với công ơn dưỡng dục của cha mẹ cô gái. Nói theo cách xưa là : nhà trai bỗng dưng được thêm người, còn nhà gái thì ngược lại, "Con gái là con người ta". Mặt khác, lễ vật cũng biểu thị được sự quý mến, tôn trọng của nhà trai đối với cô dâu tương lai.

Trong một chừng mực nào đó, đồ dẫn cưới cũng thể hiện được thiện ý của nhà trai: xin đóng góp một phần vật chất để nhà gái giảm bớt chi phí xung quanh hôn sự.

"Tiền mặt": Đây là vấn đề đang được tranh cãi nhiều: có ý kiến cho rằng, lễ vật bằng tiền thì quá thô, thậm chí còn có người cho rằng, làm như vậy là xúc phạm đến nhà gái,... có người thì lại cho rằng, vấn đề là ở cách đưa tiền: làm thế nào để tiền trở thành một lễ vật chứ không phải là một phương tiện trao đổi, mua bán như chức năng vốn có của nó.

Nếu số tiền đó được đổi thành những đồng tiền mới tinh (như tiền mừng tuổi mà ông bà, cha mẹ chúng ta thường làm) và được bao bởi một phong bì đẹp màu đỏ, có in chữ "song hỷ" thì người nhận lễ sẽ không bị mặc cảm là mình đã nhận tiền theo nghĩa đen nữa.

Rước lễ vật: Tất cả các lễ vật phải được sắp xếp gọn gàng và thẩm mỹ. Và nhất thiết phải được bày vào quả sơn son thếp vàng (hay mâm đồng đánh bóng, phủ vải đỏ). Có như thế mới nhấn mạnh được tính biểu trưng của lễ vật. Xưa, người đội lễ phải khăn áo chỉnh tề, thắt dây lưng đỏ. Nay, các cô gái đội lễ đã có áo dài đỏ thay thế (trông đẹp hơn) nên không cần phải dùng thắt lưng đỏ nữa. Dù dùng phương tiện đi lại là: ô tô, xích lô, xe máy, hay đi bộ thì đoàn ăn hỏi cũng nên dừng lại cách nhà gái khoảng l00m, sắp xếp đội hình, rồi mới đội lễ vào nhà gái. Đây thực sự là một hình thái văn hóa dân tộc.

Những lễ vật dẫn cưới theo phong tục cổ truyền đều thể hiện được ý nghĩa trên và ngày nay người Việt Nam vẫn tuân thủ. 
 

Trang phục: trang phục cho cô dâu (tốt nhất là một bộ áo dài, vừa có thể mặc trong lễ cưới, vừa có thể mặc ở những dịp lễ hội sau này). Nếu kinh tế nhà trai khá giả có thể sắm cho cô dâu tương lai một trong những đồ trang sức sau: xuyến, vòng, hoa tai... Chú rể thì comple, cà vạt.

Tiếp khách: Vì đây là một lễ trọng nên nhà gái phải chuẩn bị chu đáo hơn lễ chạm mặt. Tuy nhiên, do nội dung chủ yếu của lễ này là sự bàn bạc cụ thể, chính thức của hai gia đình về việc chuẩn bị lễ cưới, nên nhà gái không bày tiệc mặn mà chỉ bày tiệc trà. Nghi thức trao nhận lễ vật cũng nên trở thành nghi thức bắt buộc.

Trách nhiệm của cô dâu: Phải ngồi trong phòng cho đến khi nào chú rể vào đón hoặc cha mẹ gọi mới được ra. Ra mắt tổ tiên bằng cách thắp hương lên bàn thờ (đối với những nhà không theo đạo Thiên chúa). Sau đó cô dâu sẽ cầm ấm trà đi từng bàn để rón nước mời khách.

Nhà gái: sau khi nhận lễ rồi đưa lên bàn thờ thắp hương, nhà gái sẽ lấy ra mỗi thứ trong đồ lễ ăn hỏi một ít để "lại quả". Lưu ý là đối với cau thì phải xé chứ không được dùng dao để cắt. Khi nhà trai nhận lại tráp để bê về thì phải để ngửa, không được úp tráp lại.

Biếu trầu: Xưa, sau lễ ăn hỏi, nhà gái dùng các lễ vật nhà trai đã đưa để chia ra từng gói nhỏ để làm quà biếu cho họ hàng, bè bạn, xóm giềng,... ý nghĩa của tục này là sự loan báo: Cô gái đã có nơi có chỗ. Ngày nay, lễ ăn hỏi và lễ thành hôn không cách xa nhau nhiều về mặt thời gian nên trong khi biếu trầu người ta thường kết hợp với đưa thiếp mời đến dự cưới. Có nhiều người phản đối việc duy trì tục này với lý dó là: những quà biếu này không được sử dụng, gây lãng phí, tốn kém cho nhà trai. Tuy nhiên, tục "biếu trầu" chỉ áp dụng đối với họ hàng hay một số bạn bè thân thiết, nếu không thì việc đưa thiếp mời sẽ không có tính biểu trưng.

Thứ Sáu, 31 tháng 5, 2013

3 lễ tục tiêu biểu phần 1

LỄ CHẠM NGÕ (XEM MẶT, DẠM NGÕ)

Đây là một lễ nhằm chính thức hóa quan hệ hôn nhân của hai gia đình. Theo số liệu xã hội học, tần suất thực hiện lễ chạm ngõ ở xã hội ta hiện nay đang có xu hướng tăng. Như thế, đây là nhu cầu xã hội chứ không phải hành vi hướng cổ có tính chất chơi trội của một nhóm xã hội nào.

Tuy nhiên, do chưa có sự hiểu biết đầy đủ về lễ này (do người ta ít thực hành nó trong mấy chục năm qua) nên nhận thức của người dân và thực hành của họ về lễ này còn chưa đúng. Thậm chí, những người làm công tác quản lý xã hội và văn hóa cũng chưa có sự am hiểu sâu sắc về lễ này.
 

Lễ chạm ngõ ngày nay cũng không theo lối xưa, chỉ là buổi gặp gỡ giữa hai gia đình. Nhà trai xin đến nhà gái đặt vấn đề chính thức cho đôi nam nữ được tự do đi lại, tiếp tục quá trình tìm hiểu nhau một cách kỹ càng hơn, trước khi đi đến quyết định hôn nhân. Buổi lễ này, không cần vai trò hẹn trước của người mối (kể cả những trường hợp yêu nhau nhờ mai mối), không cần lễ vật rườm rà.

Về bản chất, lễ này chỉ là một ứng xử văn hóa, thông qua đó hai gia đình biết cụ thể về nhau hơn (về gia cảnh, gia phong), từ đó dẫn tới quyết định tiếp tục hay không quan hệ hôn nhân của hai gia đình. Lễ vật của lễ chạm ngõ theo truyền thống rất đơn giản: chỉ có trầu cau.

Xét về mặt chức năng: nếu bỏ qua lễ này mà đi thẳng vào lễ ăn hỏi thì mọi việc sẽ bị cảm thấy đường đột, ngang tắt, không có khởi đầu. Vì thế, tuy không phải là một lễ trọng nhưng lại là một lễ không thể thiếu trong tiến trình hôn lễ. Hơn nữa, lễ này không tốn kém (lễ vật chỉ có trầu cau) mà lại biểu thị được bản sắc văn hóa dân tộc (văn hoá trầu cau) thì việc bỏ qua lễ này là điều không hợp lý.

Đối với lễ này, thường người Việt Nam vẫn tiến hành theo khuôn mẫu cổ truyền:

Thành phần tham gia:
  • Nhà trai: Bố, mẹ, chú rể, người mối (nếu có).
  • Nhà gái: Cả gia đình nhà gái.
  • Trang phục:
  • Trai: complet
  • Gái: áo dài Nếu do điều kiện không có thì mặc những bộ quần áo đẹp nhất mà mình có.
  • Phương tiện đi lại:
  • Ở thành phố: tốt nhất là thuê một chuyến xe con 5 chỗ (vừa đủ 4 người nhà trai đi) hoặc đi xe máy.
  • Ở nông thôn: nếu xa có thể đi bằng xe máy, nếu gần: đi bộ.
  • Lễ vật của nhà trai: Trầu cau và chè
  • Nhưng số lượng phải tính chẵn. (Ví dụ: 2 gói chè, hai chục cau).
Đón tiếp ở nhà gái: Dọn dẹp nhà cửa sạch, đẹp. Ăn mặc trang trọng. Khi đoàn khách nhà trai đến, đón chào niềm nở. Tiếp khách bằng trà (nếu có trà thơm là tốt nhất). Khi nhà gái đồng ý nhận lễ vật, mang đặt lên bàn thờ thì cuộc lễ coi như kết thúc. Sau đó hai bên có thể ngồi lại nói chuyện đôi chút.

Thứ Năm, 30 tháng 5, 2013

Quan niệm chọn ngày cưới miền Bắc

Chọn người xem ngày cưới hỏi

Sự việc cưới xin là việc trọng đại trên hết mọi sự quan trọng, do vậy người miền Bắc thường chú trọng mọi thứ liên quan đến nó. Đặc biệt là ngày giờ diễn ra đám cưới. Họ quan niệm rằng việc này có ảnh hưởng đến sự gắn kết cả đời của cô dâu và chú rể.


Đa số, người ngoài Bắc vẫn có thói quen nhờ các thầy xem tướng số chọn ngày giúp. Có những gia đình xem ngày cưới tới cả 2-3 thầy, mỗi người lại nói một ngày khác nhau nên chọn ngày trở nên rất phức tạp. Vì thế để khắc phục mâu thuẫn, một số gia đình đã chọn cách đến chùa, nhờ đến những thầy sư lớn tuổi tìm ra một ngày đẹp với cả hai họ. Vì tin tưởng các vị cao tăng học rộng, biết nhiều về lĩnh vực ngày lành tháng tốt này. Ngoài việc thông tin đáng tin cậy, các vị sư thường không yêu cầu phải trả nhiều tiền bạc.

Cách tính ngày cưới

"Lấy vợ xem tuổi đàn bà, làm nhà xem tuổi đàn ông". Vì vậy, việc xem trước tiên là năm này, tuổi của cô dâu có cưới được hay không. Các cô dâu đều được khuyên là không cưới chồng vào những năm Kim Lâu – không tốt. Các năm Kim Lâu được tính là: tuổi của cô dâu (tính cả tuổi mụ) cộng lại và ra các con số: 1, 3, 6, 8, 9. Nếu muốn cưới vào những năm tuổi Kim Lâu thì phải qua Đông Chí.


Người ngoài Bắc thường dành việc đi xem ngày cho nhà gái rồi hai nhà gặp nhau để thông báo ngày cưới cụ thể. Tuy nhiên, nếu nhà trai cẩn thận hơn cũng có thể đi xem ngày ở một thầy khác. Nếu hai nhà xem cùng một ngày cưới là tuyệt vời nhất, ngược lại thì nhà gái được quyền quyết định. Ngày nay, cũng có nhiều đôi cô dâu, chú rể tự đi xem ngày và thông báo với cha mẹ hai bên.

Thông thường, các thầy tướng số lấy can chi lịch pháp làm cơ sở, kết hợp thêm với Bát quái, Cửu tinh, Ngũ hành,... để tính toán, từ đó chọn ra ngày thích hợp, tìm lành tránh dữ. Hai cuốn sách phổ biến đang được sử dụng là "Hoàng lịch", "Lịch vạn sự". Cách chọn ngày như sau: Dựa vào những ngày thích hợp, rồi cân nhắc đến ngày tháng năm sinh để chọn ngày thích hợp. Ngày đẹp là ngày không có sao xấu và theo nguyên tắc nam kỵ hợp, nữ kỵ xung.

Quyết định chọn ngày đám cưới

Nếu người Sài Gòn thích chọn ngày cưới vào thứ bảy, chủ nhật bởi vào ngày thường, khách đi làm còn về nhà thay đồ rất bất tiện và cập rập. Chỉ khi tổ chức cưới vào ngày nghỉ, mọi người mới có thời gian sắm sang quần áo, trang điểm thật đẹp, thật lộng lẫy đi dự tiệc cưới. Cô dâu chú rể Hà Nội lại thích thầy “phán” cho ngày tổ chức tiệc cưới vào các ngày trong tuần, nghĩa là trong các ngày mọi người đi làm. Người Hà Nội có thói quen tranh thủ dự tiệc cưới vào bữa trưa và bữa tối sau giờ hành chính.

Thứ Tư, 29 tháng 5, 2013

Phong tục cưới hởi của người Huế

Người Huế chú trọng lễ nghĩa, thủ tục trong mọi trường hợp. Nghi lễ cưới xin càng quan trọng hơn khi người Huế thường làm đúng và đủ không bỏ qua một bước nào. Nếu bạn sắp làm dâu/rể người Huế thì nên tham khảo các quy trình- tập tục cưới xin thuộc vùng miền này.

Quy trình tổ chức lễ cưới ở Huế cũng có đủ các bước thủ tục như các địa phương khác, từ lễ chạm ngõ, hỏi cưới, đến tân hôn vu quy... Nhìn tổng thể, các đám cưới Huế thường diễn ra tiết kiệm, giản đơn, không phô trương, nhưng ở mỗi phần cụ thể khá cầu kỳ, với quan niệm "trọng lễ nghi khi (khinh) tài vật". 
 

Chuẩn bị lễ hỏi, lễ cưới, người Huế thường xem ngày giờ tốt xấu, có khi lên chùa thỉnh ý các cao tăng. Sau khi chọn ngày giờ, hai bên thông gia sẽ báo cho nhau bằng một cuộc thăm đơn giản. Việc này cũng đôi khi do đôi bạn trẻ thực hiện, nhưng phải là hai nhà có thân tình từ trước.

phong tuc cuoi hoi cua nguoi hue, anh cuoi, nha hang tiec cuoi, cuoi hoi viet nam, chup hinh cuoi, ao cuoi, chuan bi cuoi, nghi le cuoi, cuoi hoi mien bac, phong tuc cuoi hoi, cuoi hoi mien trung

Ðối với đám hỏi, người Huế chỉ xem là buổi gặp mặt giữa hai gia đình và tông tộc thân thích để giới thiệu đôi bạn trẻ, không tổ chức rầm rộ. Ðám cưới Huế có các lễ: xin giờ, nghinh hôn, bái tơ hồng, rước dâu diễn ra ở nhà gái, và đón dâu, trình báo gia tiên ở nhà trai. Người Huế không có tục thách cưới, lễ vật trong lễ cưới tối thiểu chỉ gồm có mâm trầu cau, rượu trà, nến tơ hồng, bánh phu thê. Nếu khá giả, nhà trai có thể thêm bánh kem, bánh dẻo; không có "lợn quay đi lộng" như nhiều nơi. Ngoài ra, đám cưới ở Huế luôn có phù dâu, phù rể và hai đứa trẻ rước đèn đi trước. Hai đứa trẻ thường là 1 trai 1 gái, tuổi tương đương cầm lồng đèn hay cầm hoa.

Trong đêm tân hôn, đôi bạn trẻ phải làm lễ giao bôi hợp cẩn. Người Huế có tập tục để trong phòng hoa chúc một khay lễ với 12 miếng trầu, đĩa muối, gừng và rượu giao bôi. Ðôi bạn trẻ phài nhai hết 12 miếng trầu ấy, tượng trưng cho 12 tháng hòa hợp trong một năm, 12 năm hòa hợp tuần hoàn trong một giáp âm lịch. Việc ăn muối ăn gừng mang màu sắc dân gian, biểu tượng nghĩa tình nồng thắm. Còn rượu giao bôi thì theo đúng với lễ giáo phong kiến của Trung Hoa cũ. 
 

Khi đưa dâu, thông thường bố mẹ cô gái sẽ không theo xe, mà hôm sau mới sang nhà trai, với ý nghĩa xem cô con gái ngày đầu về làm dâu có làm điều gì phật lòng nhà chồng. Buổi gặp này, hai bên thông gia đối đáp những câu khách sáo, nhắn gửi con cái cho nhau, và căn dặn con mình phải thuận thảo với gia đình bên vợ hoặc bên chồng. Hiện nay, lễ này đã được nhiều gia đình Huế giảm bớt, bằng cách khi rước dâu, bố cô gái theo về nhà trai bằng một chiếc xe khác xe hoa, và tại tiệc đãi sẽ trao đổi với nhà trai. Ba ngày sau lễ cưới, cô dâu mới được trả lại nhà bố mẹ để thu dọn tư trang về nhà chồng, bắt đầu cuộc sống làm dâu.

Tính cầu kỳ của người Huế tại lễ cưới chủ yếu trong cách hành xử. Không hề có chuyện ầm ĩ ồn ào thái quá trong các lễ và tiệc cưới. Trao đổi ngôn từ giữa hai bên thông gia, giữa bà con thân thuộc đều rất thận trọng. Việc thưa gửi, trình bày của chủ hôn, bố mẹ hai bên đều rất khuôn sáo và không bỏ sót ai.

Ðặc biệt, quan hệ tuổi mạng rất được coi trọng ở đám cưới Huế. Vị chủ hôn thường là vị cao niên trong dòng tộc hai bên, thân thuộc với gia đình, vợ con đầy đủ, không tật bệnh, tuổi không khắc kỵ đôi tân hôn. Các phù dâu phù rể là người chưa có chồng vợ, tính tình vui vẻ nhanh nhẹn. Một số nhân vật khác cũng được lựa chọn tùy phần nghi lễ phù hợp. Ðơn cử trước ngày cưới đôi tân hôn có thể đưa nhau đi may áo cưới (nếu gia đình khá giả), thì ngày giờ đi may phải tốt, chủ tiệm may là người còn cả vợ chồng, nhiều con cái, gia đình hòa thuận.

Việc bài trí phòng tân hôn phải do một người phụ nữ lớn tuổi, phúc hậu sửa soạn. Lễ vật rước dâu, nhà trai nhờ một người cao tuổi, đủ vợ chồng con cái, gia đình hòa thuận kiểm tra. Người này cũng sẽ têm trầu cau, bày cặp nến hồng trên bàn thờ gia tiên nhà gái. Sau khi lễ xong, cặp nến hồng cũng phải được người này thổi tắt. Số người nhà trai đi rước dâu luôn ở số chẵn. Trước khi đi và khi đón dâu về, nhà trai thường cử vài người đàn ông trẻ tuổi hoạt bát, đã có vợ con ra đứng đón sẵn để "lấy hên" cho đôi tân hôn.

Thứ Ba, 28 tháng 5, 2013

Nghi lễ điển hình trong đám cưới

Bạn muốn áp dụng kịch bản cưới nào sau đây cho đám cưới của mình? Mỗi một kịch bản cưới tuy có sự khác nhau đôi chút nhưng tất cả đều nổi bật lên ngày vui trọng đại của đời bạn và sự hài lòng ấn tượng cho mỗi quan khách. 
 
Phong tục cưới hỏi

Mời bạn tham khảo một kịch bản với trình tự các bướca cho một lễ cưới vừa thú vị vừa trang trọng:

1. Mở đầu

Thời gian: 4 phút

Thực hiện: Chiếu slide hình của cô dâu & chú rể từ nhỏ đến lớn. Những kỷ niệm, từng giai đoạn... như hai đường thẳng và dần cắt nhau tại 1 điểm là khi gặp và gắn bó cùng nhau.
Âm thanh: Sau khi chiếu slide nhạc CD. Cho máy hát nhạc nhẹ nhàng để bắt đầu đốt nến...
Ánh sáng: Đồng loạt tắt đèn và thắp nến chiếu slide.

2. Chào quan khách
Thời gian: 2 phút

Thực hiện: Cha chú rể và cha cô dâu bước ra sân khấu: từ khán phòng nhìn lên sân khấu, cha chú rể sẽ xuất hiện từ bên phải và cha cô dâu từ bên trái. Cha chú rể chào và cám ơn hai họ và bạn bè thân hữu. Cha cô dâu tuyên bố bắt đầu nghi lễ và giới thiệu hai nhân vật chính...
Âm thanh: Nhạc giảm rồi tắt hẳn.

Ánh sáng: Đèn sân khấu sáng lên. 
 
Phong tục cưới hỏi

3. Giới thiệu chú rể và cô dâu
Thời gian: 5 phút

Thực hiện: Từ cửa ra vào khán phòng, mẹ cô dâu đi song song cùng con rể và mẹ chú rể đi song song cùng con dâu (dâu và rể đi bên phải mẹ). Khi đang tiến lên sân khấu, cha cô dâu giới thiệu với hai họ và quan khách. Khi đến bàn hai họ, mẹ cô dâu cùng chú rể dừng lại để mẹ chú rể trao cô dâu cho chú rể.

Hai mẹ cùng dâu rể bước lên sân khấu. Hai cha sẽ nhường chỗ cho dâu và rể đứng giữa sân khấu.

Sắp xếp vị trí theo sơ đồ dưới đây:

Âm thanh: Nhạc CD nhỏ dần khi cha chú rể tuyên bố lễ trao nhẫn.

Ánh sáng: Ánh sáng khán phòng vẫn tắt, chỉ có đèn sân khấu sáng. 
 
Phong tục cưới hỏi
Phong tục cưới hỏi
4. Nghi lễ trao nhẫn

Thời gian: 3 phút

Thực hiện: Cha chú rể tuyên bố nghi lễ trao nhẫn. Trước khi trao nhẫn, chú rể và cô dâu có thể có vài lời cho nhau.

Âm thanh: Khi cha chú rể vừa tuyên bố xong nghi lễ trao nhẫn thì bật nhạc CD với âm lượng vừa.

Khi trao nhẫn, nhạc sẽ nhỏ lại nếu chú rể và cô dâu có lời trao đổi với nhau.

Ánh sáng: Ánh sáng khán phòng vẫn tắt, chỉ có đèn sân khấu sáng.

5. Kết thúc nghi lễ
Thời gian: 3 phút

Thực hiện: Hai bên cha mẹ đứng gần lại với dâu rể và cha chú rể ngỏ lời cám ơn hai họ và thân hữu đã đến dự lễ cưới hai cháu rồi mời quan khách nhập tiệc. Sau đó hai gia đình sẽ bước xuống sân khấu theo thứ tự: (đi song song nhau) cha mẹ chồng, cha mẹ vợ, hai vợ chồng. Cha mẹ chồng và cha mẹ vợ sẽ ngồi vào bàn tiệc. Cô dâu và chú rể sẽ vào phòng để thay đổi trang phục (nếu có) rồi ra tiếp khách.

Âm thanh: Khi cha chú rể dứt lời thì nhạc CD trỗi lên.

Ánh sáng: Ánh sáng khán phòng được bật và để sáng luôn cho đến lúc tàn tiệc.

Tổng cộng: 17 phút

Gửi tặng bánh cưới

Không phải là một chiếc bánh lớn với nhiều tầng như truyền thống, mà gồm nhiều chiếc bánh nhỏ xếp thành. Khi khách ra về, những chiếc bánh nhỏ sẽ trở thành 1 món quà xinh xắn mà cô dâu – chú rể gửi tặng.

Thứ Hai, 27 tháng 5, 2013

Miếng trầu là đầu câu chuyện

Trầu cau làm đầu câu chuyện. Câu nói này có vẻ chẳng sai khi mà thời hiện đại ngày nay mọi người vẫn dung lá trầu, quả cau để nói chuyện quan trọng. Đặc biệt là trong những dịp cưới xin.

Từ thời xa xưa, miếng trầu với quả cau đã rất gần gũi với nhân dân ta, gần gũi và quen thuộc đến nỗi phương ngôn ta có câu “Miếng trầu là đầu câu chuyện”... Trầu cau đã đi vào tình cảm, sinh hoạt và đời sống của người đời xưa, đi vào nhiều truyền thuyết trữ tình và kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. Nó là biểu hiện của niềm vui, nỗi nhớ: “Trầu này trầu quế, trầu hoa. Trầu loan, trầu phượng, trầu ta, trầu mình”, hoặc niềm luyến tiếc đau đáu: “Ba đồng một mớ trầu cay. Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?”... 
 
Câu chuyện trầu cau

Miếng trầu có mặt trong mọi lễ nghi, sinh hoạt, ngày vui, ngày buồn của nhân dân ta. Cũng vì vậy mà trước đây, tất cả mọi người đều ăn trầu, đặc biệt là phụ nữ. Không phải chỉ “Ăn miếng trầu cho ấm”, “Ăn trầu cho sạch miệng” hoặc “Ăn miếng trầu cho vui” như lời mời của các cụ ngày xưa, về mặt khoa học, thành phần miếng trầu gồm: nửa lá trầu không, một miếng cau (khô hoặc tươi), một miếng vỏ và một ít vôi đủ để têm vào lá trầu. Tỷ lệ giữa trầu, cau, vôi có thể thay đổi tuỳ theo thói quen và sở thích từng cá nhân. Theo các phân tích khoa học, nước ép lá trầu có tác dụng làm tăng huyết áp ít nhiều, làm giãn mạch ngoại vi, đồng thời có tính kháng sinh. Trong y học dân tộc lá trầu là một vị thuốc quý được nhân dân ta dùng để chữa nhiều bệnh từ việc đánh gió cảm mạo, đến chữa bỏng, rửa vết thương chữa mụn nhọt và nhiều bệnh viêm nhiễm khác. Theo các tài liệu nghiên cứu, trong hạt cau có nhiều chất, khoảng 15% tanin, 14% chất dầu, 2% các muối khoáng và những ancaloit, trong đó có chất Arêconin (C6H13NO2): chất này chứa gần 0,5% trong hạt cau.
 
Phong tục cưới hỏi
 
Arêcôlin giống như Pelêtinin, Pilôcacpin, Muscarin.Đó là một chất làm tiết nước bọt mạnh, làm co đồng tử, có tính kích thích thần kinh phó giao cảm.

Theo dược tính nói trên thì ăn trầu với một miếng cau khoảng 1g, số lượng Arêcôlin có thể cao tới 5mg, và nếu đúng như vậy thì có thể xảy ra tai biến, nhất là với các bà ăn trầu luôn miệng. Nhưng thực tế không có chuyện nào không hay xảy ra cả. Có thể do quá trình biến đổi hoá học đã xảy ra ngay trong miệng người ăn, nghĩa là trong một môi trường kiềm và nước bọt, dưới tác dụng nghiền giã của răng hoặc cối giã trầu cau.

Thí nghiệm cho thấy tuy Arêcôlin tan trong nước và nước bọt, nhưng nếu ở trong môi trường có vôi nó sẽ biến thành chất Arêcaidin không độc mà chỉ có tác dụng hưng phấn. Như vậy rõ ràng nhai trầu đem lại tác dụng hưng phấn và cũng như vậy nhiều người thích nhai trầu, nghiện ăn trầu. Tính hưng phấn này có được là cả một quá trình khắc phục tính tương kỵ một bên là của lá trầu vị cay có tác dụng làm tăng áp và một bên cau có Arêcôlin có tính làm hạ áp để chỉ còn giữ lại vị cay nồng đậm đà của miếng trầu và biến chất Arêcôlin thành Arêcaidin gây hưng phấn cho người sử dụng.